Chân dung cố Lương y Đặng Văn Cáp (1894–1984).
Ảnh tư liệu — Nguồn: Hội Đông y Việt Nam

Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam qua các thời kỳ

Cố Lương y Đặng Văn Cáp (1894–1984)

Người cận vệ, người thầy thuốc của Bác Hồ và nhà lãnh đạo của nền Đông y Việt Nam

Theo tư liệu của Thạc sỹ, Bác sỹ Trần Thị Tới — Phó Ban Chuyên môn Hội Đông y Việt Nam

Có những con người mà cuộc đời gắn chặt với vận mệnh dân tộc theo một cách rất riêng: không phải bằng súng đạn, mà bằng thang thuốc, bằng bàn tay bắt mạch và bằng sự tận tụy lặng lẽ suốt mấy chục năm trời. Cố Lương y Đặng Văn Cáp là một người như thế.

Ông là người thầy thuốc tận tâm, người cận vệ, người chăm sóc sức khỏe lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trong những ngày hoạt động cách mạng gian khổ; là một trong những người cùng đoàn đưa Bác từ Trung Quốc về Pác Bó, Cao Bằng trưa ngày 28/1/1941.

Trên cương vị Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam — nay là Hội Đông y Việt Nam, ông từng là đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý.

Thông tin cơ bản

Họ và tên
Đặng Văn Cáp (còn có tên Đặng Văn Linh)
Năm sinh – năm mất
1894 – 22/2/1984 (hưởng thọ 90 tuổi)
Quê quán
Thượng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh (nay là xã Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh)
Chức vụ
Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam (nay là Hội Đông y Việt Nam)
Nhiệm kỳ
Nhiệm kỳ III, IV, V (1957 – 1975)
Chức vụ khác
Đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III; Ủy viên Trung ương MTTQ Việt Nam

Phần 1

Xuất thân và những năm đầu hoạt động

Đặng Văn Cáp — còn có tên là Đặng Văn Linh — sinh năm 1894 ở Thượng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh, nay là xã Đồng Lộc, tỉnh Hà Tĩnh. Ông lớn lên trong một gia đình nho học yêu nước, nhiều đời làm nghề bốc thuốc chữa bệnh, cứu người. Nghề thuốc với gia đình ông không chỉ là kế sinh nhai, mà là một cách sống, một cách hành xử với đồng bào mình.

Truyền thống ấy hòa cùng khí chất yêu nước của một vùng đất giàu truyền thống khoa bảng và cách mạng. Cha ông, cụ Đặng Văn Hữu, từng tham gia phong trào Cần Vương chống Pháp và đã đưa cụ Phan Đình Phùng về nhà mình chữa bệnh. Câu chuyện ấy in dấu trong tuổi thơ của người con trai họ Đặng: y thuật và lòng yêu nước, ngay từ đầu, đã là hai mặt của một con đường.

Con đường ấy đưa ông rời quê hương, sang đất Xiêm (Thái Lan) hoạt động trong cộng đồng Việt kiều, tiếp tục làm nghề thuốc bắc — nghề vừa nuôi sống mình, vừa trở thành vỏ bọc và cơ sở hoạt động cách mạng trong những năm tháng đầy bất trắc.

Phần 2

Đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh

Cuối mùa thu năm 1928, tại Xiêm, Đặng Văn Cáp gặp một người được gọi là “ông Thầu Chín”. Ông vui sướng khi biết ông Thầu Chín chính là lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Từ cuộc gặp lịch sử ấy, ông được sát cánh bên Người một thời gian khá dài trên đất Xiêm. Những kỷ niệm đầu tiên được gặp Bác Hồ in đậm trong ký ức và đi theo ông suốt cả cuộc đời hoạt động cách mạng.

Trong hồi ký, ông viết: “Năm 1929, tôi ở với Bác vừa đúng tròn 1 năm. Tôi phụ trách hiệu thuốc bắc. Bác cùng ở với tôi trong hiệu thuốc liền từ tháng 1 – 6/1929”. Cũng theo hồi ký ấy, sau chuyến đi vắng của Bác, khoảng tháng 3/1930, ông đang đi cày thì được gọi về — và ngay hôm đó, ông được Bác công nhận là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam.

Năm 1934, ông bị bắt; đến tháng 6/1935 bị trục xuất sang Trung Quốc, cùng với vợ là bà Nguyễn Thị Kẹo, nữ đảng viên từng tham gia phong trào Xô viết Nghệ Tĩnh năm 1930. Tại Nam Ninh, Đặng Văn Cáp tiếp tục hoạt động trong phong trào yêu nước và được bầu làm Bí thư Chi bộ Việt kiều.

Tháng 5/1940, ông gặp lại lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc. Sau khi thăm hỏi sức khỏe và tình hình bà con Việt kiều ở Xiêm, Bác giao cho ông làm liên lạc giữa các đồng chí Đảng ta với các đồng chí Đảng bạn Trung Quốc. Những ngày ở Côn Minh, ông được Bác chỉ bảo, dặn dò tỉ mỉ, nhất là cách nắm tình hình: người làm liên lạc phải nhớ trong óc, không được viết ra giấy.

Tháng 6/1940, khi Chính phủ Pêtanh ở Pháp đầu hàng phát xít Đức, Bác khẳng định thời cơ cho cách mạng Việt Nam đã đến, mọi người phải tìm cách về nước ngay. Cuối năm 1940, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí Phạm Văn Đồng, Phùng Chí Kiên, Đặng Văn Cáp và một số đồng chí khác rời Quế Lâm tìm đường về nước. Trưa ngày 28/1/1941 — mùng 2 Tết Tân Tỵ — đoàn vượt Cột mốc 108 về đến Pác Bó, Cao Bằng.

“Thời cơ cho Cách mạng Việt Nam đã đến. Mọi người không nên ở lại Quế Lâm nữa, phải tìm cách về nước ngay để hoạt động. Chậm trễ lúc này là có tội với cách mạng.”

Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc, tháng 6/1940
Bác Hồ về nước năm 1941 — Lương y Đặng Văn Cáp đứng cuối bức ảnh.

Bác Hồ về nước năm 1941 — Lương y Đặng Văn Cáp đứng cuối bức ảnh.

Ảnh tư liệu lịch sử — Nguồn: Bảo tàng Cách mạng Cao Bằng cung cấp

Cố Lương y Đặng Văn Cáp (mặc bộ comple trắng) đứng cạnh Bác Hồ, cùng vợ là cụ bà Hoàng Vọng Bình — tên hoạt động cách mạng của cụ bà Hoàng Thị Nghiêng, cả hai đều là lão thành cách mạng.

Cố Lương y Đặng Văn Cáp (mặc bộ comple trắng) đứng cạnh Bác Hồ, cùng vợ là cụ bà Hoàng Vọng Bình — tên hoạt động cách mạng của cụ bà Hoàng Thị Nghiêng, cả hai đều là lão thành cách mạng.

Ảnh tư liệu — Nguồn: Gia đình cố Lương y Đặng Văn Cáp cung cấp

Phần 3

Người thầy thuốc của Bác Hồ

Con đường đón Bác về nước, theo hồi ký của ông, “thật gian khổ, khó khăn và không kém phần nguy hiểm. Phải dò dẫm từng đoạn, thấy thật an toàn mới tiếp tục đi”. Dù qua thành phố hay xuyên rừng, mọi người đều phải hóa trang: có lúc Bác đóng vai nhà báo Trung Hoa “Tân văn ký giả”, mặc complê, nói tiếng Trung Quốc và tiếng Pháp; đồng chí Phạm Văn Đồng đóng vai phiên dịch; Đặng Văn Cáp và anh em đóng vai người đi đường.

Ở Pác Bó, ông được giao in tài liệu, giao dịch, vận động và kết nối với đồng bào địa phương để xây dựng cơ sở cách mạng vững chắc, giúp đỡ lương thực. Công việc hằng ngày phải trèo đèo, lội suối hàng chục cây số, nhưng ông không ngại khó, luôn tin rằng Bác đã trở về Tổ quốc thì nhất định dân tộc sẽ sớm thoát khỏi ách thực dân, phong kiến.

Điều kiện thời tiết vùng núi khắc nghiệt, sương muối bao phủ, độ ẩm trong hang đá rất cao; thực phẩm hằng ngày chủ yếu là cháo bẹ và măng rừng. Bác thường xuyên ốm, sức khỏe bị ảnh hưởng nghiêm trọng. Đặng Văn Cáp đã dùng chính kiến thức y học cổ truyền của mình, túc trực chăm sóc Bác, lặn lội khắp các cánh rừng Pác Bó tìm cây thuốc nam có tác dụng giải cảm, bồi bổ.

Nhận thấy cây ổi rừng rất tốt cho đường ruột, ông hái búp ổi non, rửa sạch rồi đun nước uống hằng ngày cho Bác và các đồng chí. Sự tận tụy ấy đã giúp Bác duy trì được sức khỏe, vượt qua ốm đau để tiếp tục chèo lái con thuyền cách mạng Việt Nam đi đến thắng lợi.

Trước khi sang Trung Quốc “bàn việc lớn”, Bác căn dặn ông: “Chú là người biết làm thợ rèn, chú phải chú ý nghề đó để khi có dịp là rèn giáo mác cho du kích”. Từ lời dặn ấy, Tổng bộ Việt Minh giao cho ông phụ trách xây dựng xưởng vũ khí tại vùng Lũng Hoàng, sau đổi tên là Lam Sơn.

Cách mạng Tháng Tám thành công, ngày 20/9/1945 ông nhận lệnh của Trung ương về Hà Nội làm thư ký biên dịch tiếng Trung và chăm sóc sức khỏe Bác Hồ. Ngày 1/10/1945, khi ông về đến Hà Nội thì Bác đang sốt. Thấy Bác gầy, ông không cầm nổi nước mắt; rất tế nhị, đợi các bác sĩ đi khỏi, ông mới vào bắt mạch, cắt thuốc cho Bác uống, sau đó Bác đỡ nhiều.

Thời kỳ thù trong giặc ngoài, ông cùng anh em bảo vệ khéo léo ngăn mọi mưu đồ quấy rầy Hồ Chủ tịch. Ít hơn Bác 4 tuổi và có vóc dáng gần giống Bác, ông được tổ bảo vệ chọn đóng giả Bác Hồ — một cách hóa trang khiến mạng lưới mật vụ xảo quyệt không tài nào phân biệt được ai là vị đứng đầu Chính phủ nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Tháng 3/1946, trước lúc đi Pháp ký Tạm ước, Bác chỉ thị cho ông cùng anh em phát triển “Lò rèn lô cốt đỏ”; từ đó “Binh công xưởng Ké Cáp” đã sản xuất nhiều loại vũ khí phục vụ cuộc kháng chiến trường kỳ chống thực dân Pháp.

“Bác về đây tuy đã có nhiều bác sĩ, nhưng chính anh phải theo dõi sức khỏe của Bác.”

Đồng chí Trường Chinh giao nhiệm vụ cho Đặng Văn Cáp, tháng 10/1945
Con dấu Quân y Mã ấn thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc của cố Lương y Đặng Văn Cáp, hiện còn lưu giữ.

Con dấu Quân y Mã ấn thời kỳ hoạt động ở Trung Quốc của cố Lương y Đặng Văn Cáp, hiện còn lưu giữ.

Hiện vật lưu niệm — Nguồn: Gia đình cố Lương y Đặng Văn Cáp cung cấp

Phần 4

Nhà lãnh đạo của nền Đông y Việt Nam

Sau Chiến dịch Cao – Bắc – Lạng, ông được Bác cử sang Trung Quốc làm Biện sự sứ ở Quảng Tây; tháng 10/1951 được giao phụ trách Trường Thiếu sinh quân Việt Nam tại Quế Lâm. Năm 1957, ông về nước, làm việc tại Cao Bằng cho đến năm 1960 thì chuyển hẳn sang công tác y học cổ truyền dân tộc.

Từ đây, người thầy thuốc của Bác Hồ trở thành người tổ chức của cả một nền y học. Trong hơn 20 năm với cương vị Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam, ông có công lớn đào tạo cho nước nhà nhiều thầy thuốc tâm đức trong sáng — trong đó có việc gửi Giáo sư Nguyễn Tài Thu sang Trung Quốc học tập, một quyết định để lại dấu ấn lâu dài cho ngành châm cứu Việt Nam.

Hơn nửa thế kỷ hoạt động cách mạng, ông từng là đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III, Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và được tặng thưởng nhiều huân chương cao quý. Nhưng với ông, vinh dự lớn nhất là được gần gũi, phục vụ Bác Hồ qua nhiều thời kỳ, ở nhiều địa điểm — từ những ngày Người hoạt động trên đất Xiêm đến cuộc hành trình gian khổ trở về Tổ quốc cứu dân, cứu nước.

Lương y Đặng Văn Cáp và vợ đứng hàng đầu cạnh Chủ tịch nước Trường Chinh, ngày 3/2/1980 trước Nhà Quốc hội, chụp cùng các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

Lương y Đặng Văn Cáp và vợ đứng hàng đầu cạnh Chủ tịch nước Trường Chinh, ngày 3/2/1980 trước Nhà Quốc hội, chụp cùng các vị lãnh đạo Đảng và Nhà nước.

Ảnh tư liệu — Nguồn: Gia đình cố Lương y Đặng Văn Cáp cung cấp

Huân chương Độc lập hạng Nhất tặng Lương y Đặng Văn Cáp.

Huân chương Độc lập hạng Nhất tặng Lương y Đặng Văn Cáp.

Hiện vật lưu niệm — Nguồn: Gia đình cố Lương y Đặng Văn Cáp cung cấp

Phần 5

Những dấu ấn nổi bật

  • Đồng hành cùng Chủ tịch Hồ Chí Minh từ đất Xiêm (1928) đến Pác Bó
  • Cùng đoàn đưa Bác Hồ về nước ngày 28/1/1941
  • Người thầy thuốc trực tiếp chăm sóc sức khỏe Bác Hồ
  • Xây dựng xưởng vũ khí Lam Sơn và “Binh công xưởng Ké Cáp”
  • Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam — nay là Hội Đông y Việt Nam
  • Đại biểu Quốc hội khóa II, khóa III
  • Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
  • Đào tạo nhiều thế hệ thầy thuốc cho nền Đông y nước nhà
  • Huân chương Độc lập hạng Nhất và nhiều huân chương cao quý

Dòng thời gian

  1. 1894

    Sinh tại Thượng Lộc, Can Lộc, Hà Tĩnh

    Trong gia đình nho học yêu nước, nhiều đời làm nghề bốc thuốc.

  2. 1928

    Gặp “ông Thầu Chín” trên đất Xiêm

    Bắt đầu những năm tháng sát cánh bên lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc.

  3. 1930

    Được Bác công nhận là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam

    Khoảng tháng 3/1930, sau chuyến đi vắng của Bác.

  4. 1935

    Bí thư Chi bộ Việt kiều tại Nam Ninh

    Sau khi bị bắt năm 1934 và bị trục xuất sang Trung Quốc tháng 6/1935.

  5. 1940

    Làm liên lạc giữa Đảng ta và Đảng bạn Trung Quốc

    Gặp lại Bác tại Côn Minh tháng 5/1940.

  6. 1941

    Cùng đoàn đưa Bác Hồ về Pác Bó

    Trưa 28/1/1941, vượt Cột mốc 108 về đến Cao Bằng.

  7. 1945

    Về Hà Nội chăm sóc sức khỏe Hồ Chủ tịch

    Nhận lệnh Trung ương ngày 20/9/1945, làm thư ký biên dịch tiếng Trung.

  8. 1946

    Phát triển “Lò rèn lô cốt đỏ” thành binh công xưởng

    Sản xuất vũ khí phục vụ kháng chiến chống thực dân Pháp.

  9. 1951

    Phụ trách Trường Thiếu sinh quân Việt Nam tại Quế Lâm

    Trước đó làm Biện sự sứ tại Quảng Tây.

  10. 1957

    Về nước, công tác tại Cao Bằng

    Đến năm 1960 chuyển sang công tác y học cổ truyền dân tộc.

  11. 1975

    Kết thúc nhiệm kỳ Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam

    Hơn 20 năm giữ cương vị Phó Chủ tịch rồi Chủ tịch Hội.

  12. 1984

    Từ trần ngày 22/2/1984, hưởng thọ 90 tuổi

    Tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.

Phần 6

Di sản còn mãi

Ngày 22/2/1984, Đặng Văn Cáp — một chiến sĩ cách mạng kiên trung, người cận vệ thân tín của Bác Hồ, người thầy thuốc tận tâm, tận tụy — qua đời, hưởng thọ 90 tuổi. Thi hài ông được an táng tại Nghĩa trang Mai Dịch, Hà Nội.

Ông để lại cho nền Đông y Việt Nam một di sản kép: những thế hệ thầy thuốc được ông dìu dắt, và một tấm gương về cách hành nghề y — lấy sự tận tụy với con người làm gốc. Từ búp ổi rừng Pác Bó đến giảng đường đào tạo lương y, con đường của ông cho thấy y học cổ truyền dân tộc luôn đồng hành cùng vận mệnh đất nước.

Sự hy sinh và đóng góp của đồng chí Đặng Văn Cáp mãi là ngọn đuốc soi đường cho thế hệ trẻ, là tấm gương sáng về lòng trung thành với Đảng và y đức tận tụy với nhân dân.

Ngày 28/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt tri ân đồng bào và gia đình các vị có đóng góp đưa Bác Hồ về nước năm 1941.

Ngày 28/1/2026, Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt tri ân đồng bào và gia đình các vị có đóng góp đưa Bác Hồ về nước năm 1941.

Ảnh tư liệu sự kiện — Nguồn: Gia đình cố Lương y Đặng Văn Cáp cung cấp

Ghi nhận

Khen thưởng và ghi nhận

Huân chương Độc lập hạng Nhất tặng Lương y Đặng Văn Cáp.

Huân chương Độc lập hạng Nhất

Được Đảng và Nhà nước trao tặng vì những đóng góp xuất sắc đối với sự nghiệp cách mạng và sự phát triển của nền y học cổ truyền Việt Nam.

Huân chương Độc lập hạng Nhất tặng Lương y Đặng Văn Cáp. — Hiện vật lưu niệm (Nguồn: Gia đình cố Lương y Đặng Văn Cáp cung cấp)

Những ghi nhận khác

  • Nhiều huân chương, huy chương và phần thưởng cao quý khác của Đảng và Nhà nước
  • Đại biểu Quốc hội khóa II và khóa III
  • Ủy viên Trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam
  • Ngày 28/1/2026, gia đình được Tổng Bí thư Tô Lâm gặp mặt tri ân vì đóng góp đưa Bác Hồ về nước năm 1941

Thư viện ảnh tư liệu

Nhấn vào ảnh để xem kích thước lớn.

Tài liệu tham khảo

  1. Thạc sỹ, Bác sỹ Trần Thị Tới — Phó Ban Chuyên môn Hội Đông y Việt Nam. Cố Lương y Đặng Văn Cáp — Những đóng góp với nền Đông y Việt Nam và nền y học Việt Nam. Hội Đông y Việt Nam.
  2. Đặng Văn Cáp. Hồi ký (trích dẫn trong tài liệu nêu trên).

Nguồn ảnh tư liệu

  • Ảnh Bác Hồ về nước năm 1941: Bảo tàng Cách mạng Cao Bằng cung cấp.
  • Ảnh chân dung, ảnh chụp cùng Bác Hồ, ảnh cùng Chủ tịch nước Trường Chinh (3/2/1980), con dấu Quân y Mã ấn, Huân chương Độc lập hạng Nhất và ảnh ngày 28/1/2026: Gia đình cố Lương y Đặng Văn Cáp cung cấp.

Bài viết liên quan

Chuyên mục “Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam qua các thời kỳ” sẽ tiếp tục được bổ sung các bài viết về những vị Chủ tịch khác của Hội Đông y Việt Nam.

Xem toàn bộ chuyên mục